Nhà Cổ Việt Nam, Nha go co truyen 3,5 gian

Kiến trúc nhà cổ Việt Nam và các thước tầm

Hệ thống kết cấu khung cột, vì kèo (kẻ, bảy, con chống) và các loại xà dù là bằng tre hay bằng gỗ cũng cần thiết có sự quy định thống nhất về kích thước
Hệ thống kết cấu khung cột, vì kèo (kẻ, bảy, con chống) và các loại xà dù là bằng tre hay bằng gỗ cũng cần thiết có sự quy định thống nhất về kích thước, tương quan về tỉ lệ và qua đó ông cha ta đã sáng tạo ra một thức kiến trúc riêng biệt trong kiến trúc nhà cổ Việt Nam và dân gian Việt Nam . về kĩ thuật xây dựng, sự quy định và quan hệ tương quan của kích thước các cấu kiện trong “Thức kiến trúc việt nam ” kết tinh trong các Thước tầm (còn gọi là Thước mực, Rui mực hay Sào mực – có khi chí là cái sào tre có khắc mức nấc). Kích thước quy ước trên các thước tầm chính là mô đun của thức kiến trúc cố Việt Nam . Từ nhỏ bé, đơn giản như ngôi nhà ở tranh, tre, nứa, lá cho đến đồ sộ, phức tạp như công trình cung điện, đình, chùa… Các Thước tầm được sử dụng rộng khắp và phổ biến như nhau. Nó quy định đơn vị cơ sở để tính toán chiều cao, chiều ngang được gọi là khoáng đứng và khoảng nằm, và do đó có cả khoảng chảy – chiêu nghiêng. Kích thước các cấu kiện hệ thống khung sườn nhà được đánh dấu riêng biệt trên các Thước tầm, sau này được lưu trữ và khi cần sửa chữa, trung tu hiệp thợ sau vẫn sử dụng chính xác như hiệp thợ trước. Nhà nào thước ấy, ông cha ta xưa kia không có bản vẽ thiết kế kiến trúc mà tất cả chỉ căn cứ vào các Thước tầm của người thợ cả, căn cứ vào đó mà đem tre ra cắt, đem gỗ ra cưa, làm chốt, đục mộng… nhiều thợ cùng làm nhiều cấu kiện, song lên bộ khung vì thì thống nhất ăn khớp nhau rất ít khi sai biệt, khá tài tình.

nha co viet nam

Thông thường, đơn vị mô đun tính toán của các công trình kiến trúc cổ truyền Việt Nam là:
Tỉ lệ đứng/ ngang (nằm) = 2/3 – có độ dốc i= 66,6%. Một khoảng nằm quy ước bằng một thước ta (khoảng trên dưới 40cm hoặc 2 gang tay).
Cách tính tỉ lệ giữa các bộ phận trong một bộ vì kèo có một sự thống nhất tương đối, giữa các địa phương và các hiệp thợ có sự biến đổi chút ít – giới thiệu sơ đồ 2 cách tính vì với 6 hàng cột.
Tuy vậy, độ dốc mái (khoảng chảy) i = 66,6% là độ dốc của mái lợp ngói thông dụng xưa kia, ngói mũi hài, dưới có lớp ngói chiếu. Khi mái lợp vật liệu lá cọ, rạ… thì độ dốc có thể tới 75% (đứng/ngang = 3/4) hoặc 70%, và lợp ngói thì chỉ có thế là 60Vr. Nhưng theo tỉ lệ độ dốc nào thì củng dựng được một thước đơn vị tam giác vuông mà 3 cạnh là 3 khoảng đứng, nằm và chảy, đồng thời dựa trên đó tính ra kích thước cụ thế các cấu kiện, các chi tiết cấu tạo và khắc dấu lên thước tầm, đó chính là bản vẽ thiết kế công trình cổ xưa.
Đường kính thân cột cũng có tỉ lệ tương ứng với chiều dài (tức chiều cao) của cột là 2/10. Nếu D (đường kính) của cột cái là 10 thì D của cột con là 8 và cột hành lang là 6, nhưng điều này còn tùy thuộc vào nguyên vật liệu gỗ nên ít được áp dụng triệt đế. Hình dáng cột thì theo dạng “đầu cán cân, chân quân cờ”: ngọn cột nhỏ, gần dưới phình to và chân cột thót lại. Thường là theo tỉ lệ: đường kính ngọn cột là 6 phần, thì phần nở lớn nhất là 10 phần (tính theo chiều cao từ chân cột lên 1/4) và chân cột là 8 phần.
Đối với các thành phần kết cấu khác của bộ khung sườn nhà như giữa các xà với nhau, giữa xà với cột, giữa câu đầu với các cột V. V… cũng có những quy định tương ứng, song không có tính phổ biến vằ rõ ràng, chặt chẽ như các quy định nói trên.
Lưu ý thêm-, Các vì được lắp dựng với hình dạng các cột phải theo nguyên tắc “Thượng thu hạ thách”, nên kích thước các khoảng nằm ở các mức cao của xà lòng, xà nách. Thế đứng choãi “Thượng thu hạ thách” là thế đứng vững của công trình mà người xưa đà lựa chọn
Trình tự xây dựng kiến trúc cổ truyền Việt Vam
Trình tự và quá trình xây dựng kiến trúc cố và dân gian Việt Nam thông thường trải qua 4 giai đoạn:
– Chuẩn bị nguvên liệu xây dựng
– Lựa chọn vị trí và hướng công trình
– Thi công xây cất
– Hoàn tất, sử dụng